Các báo, tùng san văn nghệ từ trung ương đến địa phương, do kinh phí ít, tự bươn chải, nên chưa quảng bá được đến công chúng
Về hàng ngũ sáng tác, các văn nghệ sĩ đã được bảo đảm tự do sáng tạo, được chú trọng bảo vệ bản quyền về sáng tác, trình diễn. Những tác phẩm có giá trị cao về nội dung, nghệ thuật của những cá tính sáng tạo độc đáo còn ít.
Trước nhất là giải quyết chế độ phụ cấp cho các cán bộ đang công tác ở các Hội VHNT như các cơ quan hành chính khác.
Sự phối hợp giữa các Hội văn chương nghệ thuật với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch còn lỏng lẻo, thiếu đồng bộ trong việc giám định, đánh giá, tư vấn các vấn đề can hệ đến VHNT. Công tác văn hóa, VHNT chỉ thực sự đáp ứng nhiệm vụ tuyên truyền chính trị của Đảng và quốc gia khi nâng cao được nhận thức cho các cấp ủy đảng và chính quyền về vai trò, vị trí của văn hóa, văn nghệ; xác định rõ mô hình tổ chức Hội VHNT là một nức quan trọng trong công tác tư tưởng, văn hóa của Đảng và Nhà nước.
Biên chế, cơ sở vật chất của các Hội VHNT ở Trung ương và địa phương phải đủ mạnh để thực hiện công tác VHNT và phải xem công tác này là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và của các cấp ủy đảng, chính quyền. Việc xét tặng giải thưởng hằng năm của các Hội VHNT địa phương còn chưa thống nhất do còn gặp khó khăn về ngân sách. Các tác giả đấu tái hiện hiện thực cách mạng và hai cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc (từ năm 1945 đến năm 1975) cùng lịch sử kiên cường quật cường và những truyền thống tốt đẹp của quần chúng ta.
Kiên quyết đẩy lùi các thiên hướng nghệ thuật phản dân tộc, các mô tả của "diễn biến hòa bình" trên chiến trận VHNT. Đề nghị Bộ Nội vụ có sự chỉ đạo trong ngành, giải quyết biên chế đủ cho các Hội VHNT chuyên ngành Trung ương và các hội địa phương, cụ thể trước mắt là Hội Liên hiệp văn chương nghệ thuật Hà Nội, Liên hiệp các Hội văn chương nghệ thuật TP Hồ Chí Minh với biên chế tối thiểu là 25 đến 30 người và ở các Hội VHNT các tỉnh, thị thành từ 12 đến 15 biên chế.
Việc Chính phủ tiếp tục "hỗ trợ cho các công trình văn chương nghệ thuật và báo chí thời đoạn 2011 - 2015", đặt hàng các tác phẩm VHNT, thật sự là nguồn động viên đối với văn nghệ sĩ và báo chí cả nước. Trong các chỉ đạo và quản lý cần nắm chắc tổ chức các Hội VHNT, Đồng thời phải thực hiện các giải pháp về cơ chế, chính sách đối với văn nghệ và văn nghệ sĩ như quyết nghị 23 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới yêu cầu.
Văn nghệ cũng tham gia phê phán khá mạnh mẽ những tiêu cực trong từng lớp như tình trạng mất dân chủ, tham nhũng, lộng quyền và lạm quyền, thoái hóa biến chất về lý tưởng, đạo đức, lối sống vị kỷ, không nghĩa tình, chạy theo đồng bạc và ích lợi vật chất thiển cận. Một số đề án về Văn học nghệ thuật đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhưng đến nay vẫn chưa được bộ, ngành thể chế hóa cụ thể.
Tuy kinh phí hỗ trợ còn ít nhưng đã tháo gỡ rất nhiều khó khăn cho các hoạt động văn nghệ của cả nước, nhất là đối với các địa phương có mức thu nhập thấp và vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Trên cơ sở đó, từ trung ương đến địa phương cần củng cố tổ chức các Hội VHNT; bố trí cán bộ làm mướn tác VHNT nắm vững quan điểm, đường lối, các chính sách về văn hóa, văn nghệ của Đảng và quốc gia; tập trung được hàng ngũ văn nghệ sĩ, khích lệ sáng tác để có được những sản phẩm văn hóa, văn nghệ tốt phục vụ quần chúng.
Văn nghệ động viên cái đúng, cái tốt, cái đẹp, cái mới tiến bộ, tạo lập những tấm gương tiêu biểu của con người thời đại: người cần lao sáng tạo (công nhân, dân cày, trí thức), những người làm giàu chân chính cho tổ quốc (thương lái, nhà doanh nghiệp, nhà kinh dinh), bảo vệ sơn hà và gìn giữ an ninh tầng lớp (chiến sĩ lực lượng vũ trang, công an nhân dân).
Trình diễn nghệ thuật trong Ngày thơ Việt Nam. Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là phát triển VHNT trong cơ chế thị trường, định hướng XHCN, cho nên hoạt động VHNT cần có sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của quốc gia. Tuy nhiên, quá trình đó cũng diễn tả những hạn chế một mực, phần nào chưa bắt kịp những biến động xã hội và tình hình phát triển của sơn hà, thiếu vắng các tác phẩm có giá trị cao về nội dung, nghệ thuật, trong khi công tác chỉ đạo, quản lý, xây dựng cơ chế, chính sách tương trợ còn một số bất cập.
Một số ngành nghệ thuật như ca múa nhạc, điện ảnh bước đầu quan tâm cuốn lực lượng văn nghệ sĩ Việt Nam yêu nước tiến bộ đang định cư ở nước ngoài về nước tham gia sáng tác, trình diễn, phát huy những giá trị truyền thống văn nghệ của cộng đồng dân tộc Việt Nam; thực hiện cộng tác giao lưu văn hóa với nước ngoài qua dịch thuật, xuất bản, lưu diễn, tổ chức trại sáng tác quốc tế ở Việt Nam và dự các liên hoan văn nghệ, các cuộc thi trình diễn ở nước ngoài.
Thời kì tới, các bộ, ngành liên can như Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các ban của Đảng cần phối hợp xây dựng cơ chế chính sách về mặt tổ chức cho hoạt động VHNT.
Quy định hệ số lương của nghệ sĩ trình diễn (xiếc, múa, sàn diễn) chưa tương thích với đặc thù nghề nghiệp thành ra anh chị em còn nhiều khó khăn trong cuộc sống, ảnh hưởng đến niềm ham sáng tạo, cống hiến trong hoạt động nghề nghiệp. Trong hoạt động sáng tạo VHNT từ khi có NQT. Nhà văn ĐỖ KIM CUÔNG Phó Chủ tịch túc trực Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam.
Cá biệt có văn nghệ sĩ chưa đề cao bổn phận tầng lớp, công dân, suy giảm lòng tin vào sự nghiệp cách mệnh, biểu đạt sự ngả nghiêng hoài nghi về lý tưởng và niềm tin về sự phát triển của tổ quốc.
Hoạt động sáng tác còn có thể hiện dễ dãi chấp nhận với tình trạng nghiệp dư, "ăn xổi ở thì", chiều theo thị hiếu, thậm chí lập dị, ngộ nhận dưới danh nghĩa các trào lưu thời thượng như: hậu hiện đại, giải cấu trúc, đại tự sự. Trong chỉ đạo điều hành còn thiếu sự quan hoài đúng mức đến việc kiện toàn mô hình tổ chức các Hội VHNT ở địa phương, cơ sở vật chất, điều kiện làm việc của các Hội còn nghèo nàn, kinh phí phục vụ cho hoạt động sáng tạo nghệ thuật.
Song song, vẫn tồn tại dằng dai thiên hướng thương nghiệp hóa, giải trí tầm thường ở một số lĩnh vực, chi phối một bộ phận công chúng âm nhạc, điện ảnh, sàn diễn.
Quản lý quốc gia về hoạt động VHNT còn buông lỏng, nhất là hoạt động xuất bản, biểu diễn. Do đó, một trong những nhiệm vụ quan yếu trong chỉ đạo, quản lý VHNT giờ là khuyến khích, cổ vũ văn nghệ sĩ sáng tạo để có nhiều tác phẩm, công trình có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, phản ánh sâu sắc hiện thực tổ quốc ta trong chống chọi cách mệnh, trong các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ chủ quyền đất nước; khuyến khích các sáng tác về đề tài truyền thống yêu nước, các giá trị văn hóa của dân tộc cũng như các đề tài phản ảnh sự nghiệp đổi mới của giang san ta bây giờ; khuyến khích sự tự do sáng tạo của người nghệ sĩ, hướng các tác phẩm tới các giá trị chân - thiện - mỹ, giàu tính nhân văn, phê phán sâu sắc các thói hư tật xấu, tệ bạc tầng lớp làm suy đồi đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc.
Ư 5, về cơ bản, các tác phẩm văn nghệ đã đi đúng hướng, phản chiếu hiện thực xây dựng và bảo vệ đất nước XHCN hôm nay.
Nội dung tác phẩm cốt yếu đề cập tới hiện thực đời sống từng lớp đương đại với cách nhìn, cách nghĩ của giới trẻ.
Các cấp ủy, tổ chức đảng xây dựng chương trình hành động cụ thể, với nhiều đề án liên hệ đến VHNT để tổ chức thực hiện, quan tâm bồi bổ đội ngũ văn nghệ sĩ, đầu tư kinh phí, nắm bắt tâm sự, diễn biến tư tưởng của văn nghệ sĩ để có biện pháp lãnh đạo kịp thời, tạo không khí đoàn kết, đồng thuận, tán thành cao trong tầng lớp.
Báo, tùng san, nhà xuất bản của các Hội còn gặp nhiều khó khăn trong phát hành, xuất bản mà chưa được tháo gỡ, giải quyết phù hợp tình hình mới.
Tác phẩm ít có chiều sâu về tư tưởng, giá trị nhân bản nhưng lại được các cơ quan truyền thông quảng bá rộng rãi có tác động không nhỏ đến sở thích thẩm mỹ của công chúng, nhất là xã hội bình dân và giới trẻ.
Tác phẩm của họ tự xuất bản, tổ chức biểu diễn, làm phim theo đơn đặt hàng của các hãng tư nhân. Còn một bộ phận văn nghệ sĩ trẻ, có khả năng sáng tác, có tác phẩm, bây giờ hành nghề tự do, không muốn vào Hội. Bên cạnh đó, chiến trường văn nghệ thời gian qua còn diễn đạt những nhược điểm. Còn hạn chế. Một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa nhận thức đúng vai trò của VHNT góp phần củng cố trận địa tư tưởng của Đảng.
Một bộ phận lớn văn nghệ sĩ (những người đã có tuổi, gắn bó với cách mệnh và kháng chiến) là lực lượng nòng cốt trong các Hội văn chương nghệ thuật vẫn giữ vững được ý kiến sáng tác của Đảng. Biên chế cũng như ngân sách hoạt động cho các Hội còn thấp so với nhiệm vụ được giao. Cần có thái độ ứng xử đúng, đãi ngộ đối với cán bộ làm thuê tác quản lý VHNT là công chức.
Trong nghiên cứu, lý luận, phê bình, cùng với quá trình đẩy lùi thiên hướng phủ nhận thành tựu của văn nghệ cách mạng, kháng chiến, việc bền chí bảo vệ và phát triển đường lối văn chương nghệ thuật của Đảng cũng được tăng cường.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét