Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2013

Phát huy vai trò các hay hơn cấp ủy đảng trong đối phó với biến đổi khí hậu

Bởi thế, quyết nghị Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI xác định: Chủ động đối phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường là những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan yếu, có tầm ảnh hưởng lớn, quan hệ tác động qua lại, cùng quyết định sự phát triển vững bền của giang san.


Nhiệm vụ trung tâm


Theo phân tách của Giáo sư Trần Thục, Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường: Biến đổi khí hậu là vấn đề toàn cầu, thách thức nghiêm trọng đối với toàn nhân loại trong thế kỷ 21. Do đó, việc đối phó cũng phải đặt trong mối quan hệ toàn cầu và coi ứng phó không chỉ là thách thức, mà còn là cơ hội thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển vững bền. Phải tiến hành song song thích nghi và giảm nhẹ, trong đó thích ứng với biến đổi khí hậu, chủ động gian thiên tai là trọng điểm.


Để đạt mục tiêu đến năm 2050 Việt Nam trở nên quốc gia phát triển, thích ứng với biến đổi khí hậu, phát thải khí nhà kính thấp, ngay từ hiện, nước ta cần thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc các ngành kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh và phát triển vững bền; thử nghiệm phát triển mô hình kinh tế xanh theo địa bàn và theo ngành, lĩnh vực.


Mặt khác, thực hành phân vùng chức năng sinh thái làm cơ sở để quy hoạch phát triển kinh tế-từng lớp, ngành, lĩnh vực và địa phương theo hướng hạp với đặc tính sinh thái của từng vùng, hài hòa với tự nhiên và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đi đôi với việc thiết lập, ứng dụng các mô hình dự báo tổng thể tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên, môi trường và kinh tế-xã hội.


Trong đó điều cấp thiết là áp dụng thí nghiệm phương thức quản lý tổng hợp và hợp nhất tài nguyên, môi trường và thích nghi với biến đổi khí hậu cho lưu vực sông, vùng ven biển, sau đó nhân rộng mô hình này ra cả nước. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu tổng hợp và hợp nhất về tài nguyên, môi trường và biến đổi khí hậu theo chuẩn quốc tế, có cơ chế ăn nhập khẩn hoang, san sớt thông tin dùng hiệu quả cơ sở dữ liệu.


Nhiệm vụ trọng điểm đầu tiên là tăng cường năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu, chủ động trong gian và giảm nhẹ thiên tai. Theo đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp kiến cập nhật, hoàn thiện kịch bản biến đổi khí hậu bảo đảm độ tin tưởng.#, Tính khách quan, cụ thể cho tuổi đến năm 2030 và 2050. Song song mở mang, phát triển, đương đại hóa hệ thống quan trắc và dự báo khí tượng thủy văn với giám sát, cảnh báo khí hậu.


Các bộ, ngành chức năng nghiên cứu, xây dựng các mô hình sinh kế vững bền chống chịu với biến đổi khí hậu, tăng cường phổ quát kiến thức, nâng cao năng lực thích ứng, đảm bảo sinh kế cho quần chúng. #, Đặc biệt ở những vùng có nguy cơ bị tác động nặng nề của biến đổi khí hậu. Tổng kết thực tế để hoàn thiện, phát triển phương châm “4 tại chỗ” trong phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai hiệp với bối cảnh biến đổi khí hậu.


Cần nghiên cứu, vận dụng các biện pháp thích nghi với biến đổi khí hậu dựa trên hệ sinh thái. Hồi phục, đẩy mạnh việc trồng rừng chắn sóng, chắn cát, chắn ngập mặn ven biển để phát huy vai trò “lá chắn thiên nhiên” rừng phòng hộ đầu nguồn để giữ nước và giảm lũ lụt, đảm bảo chống chịu được với thiên tai theo kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng.


Về đẩy mạnh các biện pháp gian, hạn chế tạo động xấu của triều cường, ngập lụt, xâm nhập mặn do nước biển dâng, trước hết phải xây dựng, cập nhật bản đồ nguy cơ ngập lụt theo kịch bản biến đổi khí hậu đến cấp xã. Từ đó thẩm tra quy hoạch xây dựng, chỉnh trang thành phố, khu dân cư ven biển; cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng; Phục hồi phát triển các hệ sinh thái tự nhiên phù hợp với kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng.


Để giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ, phát triển các hệ sinh thái thiên nhiên nhằm tăng cường khả năng tiếp thụ khí nhà kính, cần xây dựng hệ thống kiểm kê khí nhà kính nhà nước; bổ sung và hoàn thiện cơ chế, chính sách cho kiểm kê khí nhà kính định kỳ. Xây dựng kịch bản phát thải cơ sở đến năm 2020 cho các lĩnh vực năng lượng, nông nghiệp, quản lý sử dụng đất và chất thải. Chuẩn bị các điều kiện cấp thiết và xác định các cơ sở pháp lý để tiến tới hình thành, thúc đẩy phát triển thị trường các-bon trong nước và thúc đẩy tham dự thị trường các-bon toàn cầu.


Các giải pháp cốt yếu


Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCHTU khóa XI về chủ động đối phó với biến đổi khí hậu, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang cho rằng: Giải pháp đầu tiên là phát huy vai trò, làm rõ trách nhiệm của các ngành, các cấp ủy đảng, chính quyền về xây dựng năng lực chủ động đối phó với biến đổi khí hậu. Cần khắc phục tình trạng tổ chức thực hiện thiếu quyết liệt, mang tính hình thức, tư duy quá trọng tăng trưởng kinh tế, bỏ qua hoặc buông lỏng quản lý quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu.


Các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể nên nhanh chóng đưa nội dung đối phó với biến đổi khí hậu vào chương trình công tác, kể cả đưa vào chương trình giáo dục học trò, sinh viên; chương trình đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; chương trình hàng ngày của các dụng cụ thông báo đại chúng. Xây dựng năng lực, kỹ năng, phổ biến kinh nghiệm phòng, tránh thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu cho nhân dân, đảm bảo mọi người dân và toàn từng lớp luôn sẵn sàng đối phó với biến đổi khí hậu. Bởi chỉ tính trong 15 năm trở lại đây, thiên tai đã làm chết và mất tích hơn 10.000 người, thiệt hại về tài sản ước lượng lên đến 1,5% GDP/năm.


Cần đẩy mạnh việc nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là đổi mới công nghệ sinh sản theo hướng thân thiện với môi trường, tiện tặn năng lượng, sử dụng hiệu quả tài nguyên, ít chất thải và các - bon thấp. Song song thúc đẩy nghiên cứu phát triển và hấp thu chuyển giao công nghệ tiền tiến cho ứng phó với biến đổi khí hậu. Tính đến năm 2012, việc vỡ hoang năng lượng tái tạo ở nước ta mới chỉ đạt tổng công suất khoảng 550MW, đẵn là thủy điện nhỏ và sinh khối; điện gió, điện dữ quy mô nhỏ với tổng công suất lắp đặt chỉ đạt khoảng 10MW.


Để tăng cường quản lý quốc gia về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, cần soát, sửa đổi, bổ sung, xây dựng mới luật và các văn bản dưới luật trên lĩnh vực biến đổi khí hậu, nhằm tạo môi trường pháp lý tiện lợi cho việc thực hành các nhiệm vụ trọng điểm chủ động đối phó cho công tác này. Cần phân định rõ chức năng quản lý quốc gia về đối phó với biến đổi khí hậu, khắc phục sự chồng chéo về thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ, phân công, phân cấp không hợp, cũng như xây dựng cơ chế liên ngành, liên vùng và thống nhất làm mai quản lý nhà nước đối với nhiệm vụ đối phó với biến đổi khí hậu.




Ngoài việc đổi mới, hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính, tăng cường và đa dạng hóa nguồn nhân công cho ứng phó với biến đổi khí hậu, giải pháp nên được trọng là Việt Nam chủ động cộng tác, hội nhập quốc tế và phát triển quan hệ đối tác chiến lược; tăng cường luận bàn thông báo, kinh nghiệm, đối thoại chính sách, hiệp tác trong dự báo, đào tạo nguồn nhân công, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ với các nước về ứng phó với biến đổi khí hậu.


Thực hành các điều ước quốc tế về biến đổi khí hậu mà Việt Nam là thành viên, trước hết là Công ước khung của liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu, cần triệt để tận dụng thời cơ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế để huy động nguồn lực, thu nạp chuyển giao công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật, học hỏi kinh nghiệm của các nước đi trước về ứng phó với biến đổi khí hậu. Qua đó xây dựng hình ảnh và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, là nhà nước hài hòa với tự nhiên, thân thiện với môi trường, có nghĩa vụ trong đối phó với biến đổi khí hậu./.


Văn Hào


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét